Trong nghiên cứu về trí thông minh có những mô hình khác nhau, ví dụ như trí thông minh chất lỏng và trí thông minh kết tinh. Tuy nhiên, đó là lý thuyết Bifactorial của nhà tâm lý học người Anh Charles Spearman (1863 - 1945) một trong những người có lẽ đã nổi tiếng hơn trong lịch sử.
4. Trí thông minh logic. nang lực khoa học và toán học, tốt chính là những bài test IQ. Cái này chắc hổng cần diễn giải nữa hen. Albert Einstein là đại diện cho trí thông minh dạng này 5. Trí thông minh tương tác cá nhân.Nếu bạn đi vào một đám đông k quen biết, và dễ dàng trò chuyện, tốt hòa hợp với người khác
Thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner là một khái niệm không mới. Nhưng trong thuyết trí tuệ ấy có một loại trí thông minh có vẻ như ít được chú ý : Trí thông minh nội tâm. Người có trí thông minh nội tâm cao không phải ít nhưng không phải ai cũng hiểu được vai trò, tầm quan trọng và năng lực đặc biệt quan trọng của loại trí tuệ này.
Học thuyết giải thích rất thuyết phục về nhiều kiểu trí thông minh (trí tuệ) của con người và mỗi loại đều có giá trị riêng trong đời sống. Nhiều giáo viên, phụ huynh, học sinh đã nhìn thấy "ánh sáng cuối đường hầm" khi tiếp cận học thuyết này và tìm thấy giá trị của bản thân mình.
Lamchame.com - Nguồn thông tin tin cậy dành cho cha mẹ nào là Montessori..giờ lại nghe đến pp giáo dục theo trí thông minh đa diện này nữa. Vậy PP nào là ok nhất vậy hả các mẹ. Em cũng đang tính cho bé theo 1 pp mày thấy pp nào cũng tốt. chả biết thế nào mà lần
. Các bạn đang muốn tìm hiểu về văn thuyết minh? Làm thể nào để đảm bảo tính chuẩn xác hấp dẫn của văn bản thuyết minh? Dưới đây chính là tài liệu hữu ích về những kiến thức mà bạn cần nắm được1. Các khái niệm cơ Thuyết minh là gì?- Thuyết minh nghĩa là nói rõ, giải thích, giới Thuyết minh còn có nghĩa là hướng dẫn cách dùng.Theo từ điển từ Hán Việt - Phan Văn Các Văn thuyết minh là gì?Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thường gặp trong mọi lĩnh vực của đời sống; có chức năng cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,…của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng cách trình bày, giới thiệu, giải Mục đích của văn bản thuyết minh là gì?Mục đích của văn bản thuyết minh nhằm cung cấp tri thức khách quan về những sự vật, hiện tượng, vấn đề,... được chọn làm đối tượng để thuyết Các dạng bài văn thuyết minh thường gặpTrong chương trình học Ngữ văn từ lớp 8 - 12 thì có một số dạng bài văn thuyết minh thường gặp như- Thuyết minh về một đồ Thuyết minh về một loài Thuyết minh về một phương pháp như thuyết minh về cách làm món ăn, dụng cụ…- Thuyết minh về một danh lam thắng Thuyết minh về một thể loại văn học hoặc một tác giả văn Thuyết minh về một phong tục, lễ hội dân gian…- ....2. Cách làm bài văn thuyết Yêu cầu- Về nội dung Những nội dung được nêu trong bài văn đòi hỏi phải khách quan, xác thực, thực dụng, hữu ích cho mọi Về hình thức Ngôn ngữ trong văn bản thuyết minh cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp Bố cục cơ bản của một bài văn thuyết minh- Mở bài Giới thiệu về đối tượng cần thuyết Thân bài Trình bày các đặc điểm về đối tượng; giải thích nguyên nhân, nguồn gốc, cấu tạo, liệt kê các bộ phận cấu thành, các chủng loại, công dụng, cách sử dụng, bảo quản… của đối tượng. - Kết bài Đánh giá về đối tượng với khả năng, vai trò ứng dụng của nó trong thực số ví dụ minh họaVí dụ 1 Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở địa phương ý Ta có thể giới thiệu vị trí, địa điểm, những đặc điểm nổi bật nhất của danh lam thắng cảnh đó. Những giá trị văn hóa và kinh tế mà thắng cảnh đó đã đem dụ 2 Thuyết minh về một văn bản mà em đã họcGợi ý Ta có thể chọn bất kỳ một bài thơ, bài văn nào đã từng học trước đó Ta cần giới thiệu về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, nội dung, nghệ thuật, thông điệp ngụ ý, bài học rút ra được, …Ví dụ 3 Thuyết minh về một đồ dùng học tập mà em đang sử dụngGợi ý thuyết minh về cây bút bi Ta cần giới thiệu về nguồn gốc, xuất xứ, cấu tạo, phân loại, cách dùng, công dụng, bảo quản... Dàn ý văn thuyết minh Thuyết minh về một tác giả văn học1. Mở bài Giới thiệu khái quát về tác giả thuyết Thân bàia. Giới thiệu về cuộc đời tác giả- Họ, tên thật, bút danh khác, năm sinh - mất.- Quê hương, gia đình, thời Những yếu tố ảnh hưởng tới sự nghiệp văn chương ảnh hưởng của gia đình, quê hương….- Những mốc lớn trong cuộc Sự nghiệp sáng tác- Các sáng tác Quan điểm nghệ thuật sáng tác, đặc điểm phong cách nếu có.- Nội dung chính trong các sáng Đặc sắc về nghệ Kết bài Khẳng định vị trí và đóng góp của tác giả trong nền văn học dân dụ minh họaĐề bài Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du.* Bước 1 Tìm hiểu đề- Đối tượng thuyết minh Tác giả Nguyễn Du- Phương pháp làm bài Thuyết minh- Tư liệu Tham khảo các bài viết về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du.* Bước 2 Lập dàn ý1. Mở bài Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Thân bàia. Những nét chính về cuộc đời của tác giả Nguyễn Du- Nguyễn Du 1765 - 1820, Tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Quê hương quê cha ở Hà Tĩnh; quê mẹ ở Bắc Ninh, bản thân Nguyễn Du lại sinh ra và lớn lên ở kinh thành Thăng Long. Nhờ đó, Nguyễn Du có điều kiện tiếp nhận tinh hoa văn hóa của nhiều vùng miền khác Gia đình Nguyễn Du sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều người đỗ đạt, làm quan và có truyền thống về văn học. Đây chính là cái nôi nuôi dưỡng tài năng văn học của Nguyễn Thời đại Nguyễn Du sống vào cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX, một giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật là chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng và phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn. Yếu tố thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc tới ngòi bút của Nguyễn Du khi viết về hiện thực đời Những mốc lớn trong cuộc đời+ Thời thơ ấu và niên thiếu Nguyễn Du sống tại Thăng Long trong một gia đình phong kiến quyền quý. Nhưng mười tuổi đã mồ côi cha và sau đó ba năm thì mẹ ông cũng qua đời. Từ đó, Nguyễn Du sống với người anh cùng cha khác mẹ với ông là Nguyễn Khản. Trong thời gian này Nguyễn Du có điều kiện thuận lợi để dùi mài kinh sử, có dịp hiểu biết về cuộc sống xa hoa của giới quý tộc phong kiến.+ Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường và được nhận một chức quan nhỏ.+ Năm 1789, nhà Lê sụp đổ, Nguyễn Du phải lánh về sống ở quê vợ và bắt đầu cuộc sống “mười năm gió bụi”.+ Năm 1802, sau quãng thời gian sống chật vật, khó khăn ở các vùng quê khác nhau, Nguyễn Du ra làm quan dưới triều Nguyễn và từng giữ nhiều chức quan khác nhau.+ Năm 1820, ông một lần nữa được cử đi sứ sang Trung Quốc nhưng chưa kịp đi thì qua Sự nghiệp sáng tác* Các sáng tác chính- Sáng tác bằng chữ Hán Gồm có ba tập thơ “Thanh Hiên thi tập”; “Nam trung tạp ngâm”; “Bắc hành tạp lục”.- Sáng tác bằng chữ Nôm Văn chiêu hồn, Truyện Kiều* Đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong thơ văn của Nguyễn Du- Nội dung Tác phẩm của Nguyễn Du chứa chan tinh thần nhân đạo - một chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, luôn hướng tới đồng cảm, bênh vực, ngợi ca và đòi quyền sống cho con người, đặc biệt là người phụ nữ tài hoa mà bạc Nghệ thuật+ Thơ chữ Hán của ông đạt đến độ tài hoa, uyên bác.+ Sáng tác bằng chữ Nôm của ông đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ đã góp phần trau dồi, làm giàu ngôn ngữ dân tộc và thể thơ truyền thống.+ Về ngôn ngữ Nguyễn Du đã có đóng góp to lớn, làm cho ngôn ngữ Tiếng Việt trở nên trong sáng, tinh tế và giàu Kết bài Đánh giá khái quát về tác giả Nguyễn Thuyết minh về một tác phẩm văn học1. Mở bài Giới thiệu khái quát về tác phẩm thuyết Thân bàia. Giới thiệu đôi nét về tác Giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, thể loại của tác Bố cục và nội dung chính của từng Chú ý đi sâu vào nội dung chính của từng phầnd. Giá trị của tác phẩm- Giá trị nội dung- Giá trị nghệ thuật3. Kết bài Khẳng định lại vị trí của tác phẩm trong nền văn học dân dụ minh họaĐề 1 Thuyết minh về tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi.* Bước 1 Tìm hiểu đề- Đối tượng thuyết minh Tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Phương pháp làm bài Thuyết minh- Tư liệu Tác phẩm “Đại cáo bình Ngô”* Bước 2 Lập dàn ý1. Mở bài Giới thiệu khái quát về tác phẩm “Đại cáo bình Ngô”.2. Thân bàia. Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trãi- Nguyễn Trãi là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao lỗi lạc, bậc anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Đồng thời ông còn là một nhà văn kiệt xuất, nhà thơ trữ tình sâu Nguyễn Trãi để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm nhiều thể loại khác nhau bằng chữ Hán và chữ Tác phẩm chính luận tiêu biểu nhất là “Đại cáo bình Ngô”b. Hoàn cảnh ra đời, thể loại của tác phẩm “Đại cáo bình Ngô”* Hoàn cảnh sáng tác- Sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn viện binh của giặc, Vương Thông buộc phải giảng hòa, rút quân về nước, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết “Đại cáo Bình Ngô”.- “Đại cáo bình Ngô” có ý nghĩa trọng đại như một bản tuyên ngôn độc lập, được công bố vào thánh Chạp, năm Đinh Mùi tức đầu năm 1428* Thể loại “Đại cáo bình Ngô” được viết theo thể loại Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng Cáo có thể viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần lớn được viết bằng văn biền ngẫu, có vần hoặc không có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối Lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ, mạch Bố cục và nội dung chính từng phầnBài cáo chia làm bốn phần* Phần 1 Nêu luận đề chính nghĩa làm cơ sở triển khai cho toàn bộ nội dung bài cáo. Cốt lõi nhân nghĩa chính là yên dân và trừ bạo. Bên cạnh đó, tác giả khẳng định chân lí về nền độc lập dân tộc dựa trên các yếu tố Nền văn hiến lâu đời; cương vực lãnh thổ riêng; có phong tục tập quán và lịch sử, chế độ riêng* Phần 2 Bản cáo trạng hùng hồn, đẫm máu về tội ác của kẻ thù- Tố cáo âm mưu cướp nước ta của giặc Tố cáo chủ trương, chính sách cai trị vô nhân đạo của giặc Minh.+ Tàn sát người vô tội “Nướng dân đen... tai vạ”.+ Bóc lột tàn tệ, dã man “Nặng thuế... núi”.+ Huỷ diệt môi trường sống “Người bị ép... cây cỏ”.- Tội ác của chúng không sao kể hết“Độc ác thay trúc Lam Sơn không ghi hết tộiDơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa hết mùi”* Phần 3 Bản hùng ca về cuộc khỏi nghĩa Lam Sơn- Giai đoạn đầu Tác giả tập trung khắc họa hình tượng người anh hùng áo vải Lê Lợi xuất thân từ “chốn hoan dã nương mình” nhưng có lòng yêu nước thương dân và căm thù giặc sâu sắc, có lí tưởng cao cả“Ngẫm thù lớn há đội trời chung - Căm giặc nước thề không cùng sống”- Giai đoạn sau Bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn+ Lúc đầu, nghĩa quân ta gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn“ Khi Linh Sơn lương hết mấy tuầnKhi Khôi Huyện quân không một đội”+ Nhưng nhờ có tấm lòng yêu nước, có chiến lược phù hợp nghĩa quân ta đã chuyển sang giai đoạn phản công và giành chiến thắng vang dội, giặc Minh thất bại thảm hại.“Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thếNgày hai mươi, Trận Mã An, Liễu Thăng cụt đầuNgày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vongNgày hăm tám, thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn.”* Phần 4 Lời tuyên bố độc lập Tuyên bố, khẳng định với toàn dân về nền độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước đã được lập Giá trị của tác phẩm- Giá trị nội dung Bản cáo trạng về tội ác của giặc Minh cũng là bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, bản tuyên ngôn độc lập lần thứ 2 của dân Giá trị nghệ thuật+ Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương.+ Kết cấu mạch lạc, chặt chẽ; lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, sắc Sử dụng kết hợp nhiều biện pháp nghệ thuật liệt kê, phóng đại, so sánh, đối lập…→ “Áng thiên cổ hùng văn”3. Kết luận Đánh giá vị trí của tác phẩm trong nền văn học dân đây là một số gợi ý cơ bản khi làm bài thuyết minh văn học. Hy vọng qua bài viết này, các em sẽ có kĩ năng cần thiết để làm bài văn thuyết minh đạt kết quả cao Cô Trần Thị Hồng Tuyên - Tổ Văn - THPT Tiên Lữ3. Các phương pháp thuyết minhMuốn có tri thức để làm tốt bài văn, người viết phải quan sát, tìm hiểu sự vật, hiện tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm bắt được bản chất, đặc trưng của chúng, để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan bài văn thuyết minh có tính thuyết phục, dễ hiểu, sáng tỏ, người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp thuyết minh- Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích Sử dụng kiểu câu trần thuật có từ “là” nhằm giới thiệu, giải thích hoặc định nghĩa về các vấn đề liên quan tới đối tượng thuyết Phương pháp liệt kê Liệt kê các đặc điểm, tính chất,… của đối tượng thuyết minh theo một trình tự nhất định nhằm cung cấp cho người đọc, người nghe cái nhìn toàn cảnh về đối Phương pháp nêu ví dụ Đưa ra các ví dụ thực tiễn, sinh động chính xác và cụ thể, có tác dụng thuyết phục cao, làm cho người đọc tin Phương pháp dùng số liệu con số Dùng những con số xác thực, có tác dụng làm sáng tỏ vấn đề nhanh nhất, thực tế nhất mà lại có sức thuyết phục Phương pháp so sánh Sự so sánh đối tượng thuyết minh với những đối tượng khác theo từng khía cạnh giúp bài văn trở nên cụ thể Phương pháp phân loại, phân tích Đối với những loại sự vật, đối tượng thuyết minh đa dạng thì ta có thể chia đối tượng ra từng loại, từng phần theo đặc điểm riêng của đối tượng thuyết minh để trình bày sẽ đảm bảo tính khách Các yếu tố đan xen của phương thức biểu đạt khác Sử dụng một số biện pháp nghệ thuậtĐể bài văn thuyết minh được sinh động, hấp dẫn hơn thì chúng ta có thể sử dụng thêm một số biện pháp nghệ thuật. Một số biện pháp nghệ thuật thường dùng trong văn bản thuyết minh là kể chuyện, tự thuật, đối thoại theo lối ẩn dụ, nhân hoá, các hình thức vè và diễn ca,…Các biện pháp nghệ thuật cần được sử dụng thích hợp, góp phần làm nổi bật đặc điểm của đối tượng thuyết minh và gây hứng thú cho người Sử dụng yếu tố miêu tảYếu tố miêu tả là những yếu tố của hiện thực khách quan trong đời sống. Chúng có hình ảnh, đường nét, màu sắc, âm thanh, hình khối, hương vị,… rất cụ thể mà giác quan con người có thể cảm nhận được. Yếu tố miêu tả thường được sử dụng trong văn bản nghệ thuật để xây dựng hình tượng nghệ một bài văn thuyết minh cụ thể sinh động hơn thì việc kết hợp và sử dụng yếu tố miêu tả là vô cùng cần thiết. Nó có tác dụng làm cho đối tượng cần thuyết minh được nổi bật, ấn đây là những thông tin cơ bản mà bạn cần phải ghi nhớ khi áp dùng vào làm một bài văn thuyết minh, chúc các bạn sẽ có cho mình những bài văn hay cho mình!
Trong khi đó, những nghiên cứu của Howard Gardner không chỉ chứng minh cho thấy các dạng thức của trí thông minh ở con người phong phú hơn rất nhiều so với những gì chúng ta thường nghĩ, mà còn đưa ra một định nghĩa mới mẻ và rất thực tế về trí thông minh. Thay vì xem “trí thông minh” của con người như một tập hợp kết quả thu được từ một bài “test” được chuẩn hóa, Howard Gardner định nghĩa trí thông minh như sau– khả năng đạt được những thành tựu và cung cấp được những dịch vụ hay giải pháp ứng dụng được một nhóm văn hóa nào đó trong cộng đồng đánh giá nghĩa này cho thấy Howard Gardner nhấn mạnh tới bản chất đa văn hóa trong hệ thống lý thuyết của ông. Tám dạng trí khôn Trong tác phẩm Frames of Mind Theory of Multiple Intelligences xuất bản vào năm 1983 được xuất bản ở Việt Nam dưới tên Cơ cấu trí khôn Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn” – Phạm Toàn dịch, NXB Tri Thức ấn hành, lần đầu tiên Howard Gardner trình bày một cách hệ thống về “Lý thuyết trí thông minh đa diện”, một lý thuyết có những đóng góp quan trọng làm nổi bật khía cạnh đa văn hóa trong nhận thức của con người. Có thể mô tả tóm tắt về tám loại hình trí khôn được Howard Gardner đề xuất thuật ngữ “trí năng” được sử dụng dưới đây sẽ được hiểu như là một dạng năng lực của trí tuệ như sau 1. Trí năng ngôn ngữ Khả năng nắm bắt và tư duy bằng ngôn ngữ, khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ những vấn đề phức tạp. Các tác giả, nhà văn, nhà báo, diễn giả, người hành nghề quảng cáo… là những người thể hiện năng lực sử dụng ngôn ngữ ở một trình độ cao. 2. Trí năng logic-toán Khả năng tính toán, định lượng, phân tích các mệnh đề và các giả thuyết, khả năng thực hiện những thao tác toán học phức tạp. Các nhà khoa học, nhà quản trị tài chính, kỹ sư, lập trình viên đều đòi hỏi phải sở hữu một trí tuệ logic-toán đủ mạnh. 3. Trí năng thể chất-vận động Khả năng sử dụng khéo léo các đồ vật, khả năng thực hiện những hoạt động, khả năng thực hiện những động tác của cơ thể với một độ khéo léo và chính xác cao. Trong các xã hội Phương Tây trước đây, các kỹ năng thể chất không được xem là một khả năng nhận thức. Tuy nhiên, như Howard Gardner nhấn mạnh, kỹ năng thể chất, khả năng sử dụng các bộ phận cơ thể trong một số trường hợp là yếu tố sống còn và là tiêu chuẩn quan trọng của một số ngành nghề danh giá, có thể kể ra ở đây các trường hợp của các bác sĩ phẫu thuật, nghệ nhân, vận động viên và vũ công. 4. Trí năng thị giác-không gian Đó là khả năng tưởng tượng và tư duy trong các không gian ba chiều. Người nào có năng lực thị giác-không gian sẽ dễ dàng cảm nhận và tri giác được các hình ảnh bên ngoài và bên trong, có khả năng tái tạo, chuyển dịch và biến đổi những hình ảnh đã được tri giác đó. Các điêu khắc gia, họa sĩ, kiến trúc sư, phi công, thủy thủ là những người cần tới dạng năng lực này. 5. Trí năng âm nhạc Các cá nhân sở hữu dạng năng lực trí tuệ này sẽ có một độ nhạy cảm với âm điệu, giai điệu, tiết tấu và những vấn đề về âm thanh nói chung. Các nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, nhà phê bình âm nhạc, nhà sản xuất nhạc cụ, các thính giả cao cấp và tinh tế đều là những người sở hữu năng lực dạng này. 6. Trí năng tương tác xã hội đó là năng lực thấu hiểu người khác và tương tác hiệu quả với họ. Khi nền văn minh Phương Tây bắt đầu phát hiện ra mối quan hệ “thể xác-tinh thần” cũng là lúc nó đề cao tầm quan trọng của tính hiệu quả trong quan hệ tương tác giữa các cá nhân. Dạng năng lực này thường xuất hiện ở những người thầy giỏi, các nhân viên xã hội, các nghệ sĩ và các chính trị gia. 7. Trí năng nội tâm Năng lực trí tuệ được xây dựng dựa trên khả năng tự thấu hiểu bản thân mình và biết cách sử dụng những hiểu biết đó để lên kế hoạch định hướng đúng đắn cho cuộc đời mình. Những cá nhân có được năng lực trí tuệ này thường đi sâu vào các lĩnh vực thần học, tâm lý học hay triết học. 8. Trí năng thiên nhiên là khả năng quan sát nhậy bén để phát hiện ra những quy luật xuất hiện trong môi trường tự nhiên, biết nhận dạng và phân loại các đối tượng, hiểu được các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra. Trong số những người có trí thông minh tự nhiên vượt trội, người ta thường gặp những nhà nông học, thực vật học, nhà nghiên cứu môi trường, thợ săn và nông dân. Howard Gardner rất cẩn trọng khi nhấn mạnh rằng các dạng trí thông minh của con người không chỉ bó hẹp trong tám dạng mà ông đã nhắc tới. Trong cuốn “Intelligence Reframed” Trí thông minh tái cấu trúc xuất bản năm 1999, Howard Gardner nhận định, chắc chắn còn tồn tại những dạng trí năng khác chưa được nghiên cứu, và nhắc tới những năng lực trí tuệ mà chúng ta có thể đặt tên là “hiện sinh”, “đạo đức” hay “tâm linh”. Trong đó, trí năng “hiện sinh” được đặc trưng bằng thói quen luôn tự vấn về ý nghĩa của cuộc sống và cái chết. Howard Gardner đã không thể xác định được vị trí của nó trong não bộ vì thế ông cho rằng còn quá sớm để đưa nó vào trong danh sách các loại năng lực trí tuệ đã được thừa nhận. Trí năng “đạo đức” liên quan đến “khả năng đưa ra những đánh giá về giá trị” mà Howard Gardner thì luôn cho rằng các dạng trí thông minh mà ông nghiên cứu bản chất là “trung tính” về mặt đạo đức vì thế ông không coi phẩm chất trí tuệ này là một dạng trí năng. Cũng tương tự như vậy, trí năng “tâm linh” cho phép chúng ta nắm bắt các sự thật về vũ trụ, các hiện tượng siêu việt nhưng nó lại phụ thuộc một phần lớn vào năng lực tình cảm của chúng ta. Vì thế Howard Gardner vẫn chỉ dừng lại ở danh sách 8 dạng trí năng kể trên và ông tin rằng chúng đủ để xây dựng một bức tranh về nhận thức chính xác hơn nhiều so với những lý thuyết trước đây. Howard Gardner cũng nhấn mạnh, bản thân mỗi một trong tám dạng trí năng nói trên lại được hợp thành từ những dạng trí năng “thành phần”, ví dụ như trí năng âm nhạc sẽ bao gồm các năng lực như chơi nhạc, ca hát, sáng tác, chỉ huy dàn nhạc, phê bình âm nhạc hay đơn giản chỉ là khả năng thưởng thức âm nhạc. Chúng ta cũng có thể sắp xếp lại 8 dạng trí năng mà Howard Gardner đưa ra và phân chia thành 3 nhánh lớn. Đầu tiên, bốn dạng trí năng trí năng thị giác-không gian; logic-toán học; thể chất-vận động và trí năng tự nhiên có thể xem là những loại năng lực trí tuệ “gắn với đối tượng”, chúng phụ thuộc vào các đối tượng tồn tại trong môi trường và có mối tiếp xúc với con người. Nhánh thứ hai sẽ bao gồm các trí năng “không gắn với đối tượng”, đó là những dạng trí năng ngôn ngữ và âm nhạc. Những dạng trí năng này không được xác định từ môi trường vật lý mà từ những hệ thống như ngôn ngữ và âm nhạc. Và cuối cùng là nhánh thứ ba những trí năng gắn với con người – trí năng tương tác xã hội và trí năng nội tâm. Mỗi dạng năng lực trí tuệ nêu ở trên đều có một quá trình phát triển đặc thù, chúng xuất hiện và nảy nở ở những thời điểm khác nhau của cuộc sống. Trí năng âm nhạc chẳng hạn, đó là một dạng “năng khiếu thiên phú”, sự xuất hiện của nó cho đến nay vẫn luôn là một điều bí ẩn. Howard Gardner đưa ra giả thuyết rằng những thành công trong âm nhạc xuất hiện từ rất sớm ở những “thần đồng” như Mozart có thể giải thích từ việc dạng trí năng này không đòi hỏi phải đi kèm với những trải nghiệm sống. Ngược lại, điều kiện cần thiết để phát triển của trí năng tương tác xã hội và trí năng nội tâm lại đòi hỏi phải tích lũy những trải nghiệm sống phong phú, bao gồm những tương tác qua lại giữa chủ thể với những cá nhân khác. Howard Gardner kiên định lập trường rằng, trí thông minh là độc lập với những đánh giá về đạo đức. Vấn đề đạo đức chỉ xuất hiện câu hỏi “con người này đã sử dụng trí thông minh của mình vào mục đích gì?”. Goebbels kẻ đứng đầu bộ máy tuyên truyền của Đức quốc xã và Gandhi, người sáng lập ra thuyết Bất bạo động đều có một trí năng tương tác xã hội ở mức phát triển rất cao, nhưng hai người này sử dụng những năng lực của mình vào những mục đích hoàn toàn trái ngược nhau. Vì thế cái cách sử dụng trí thông minh của các cá nhân trong xã hội là một vấn đề đạo đức có tầm quan trọng thiết yếu. Sự sáng tạo sẽ được thể hiện qua các trí năng đặc thù. Tuy nhiên, theo Howard Gardner, phần lớn các cá nhân chỉ có khả năng sáng tạo trong một vài lĩnh vực nhất định. Ví dụ như Einstein thực sự là một thiên tài về toán học và khoa học, nhưng ở ông, người ta không hề nhìn thấy dấu hiệu xuất sắc nào của những trí năng dạng cơ thể-vận động hay tương tác xã hội. Hầu hết các cá nhân chỉ có thể thành công xuất sắc với một vài dạng trí năng mà họ sở hữu. Hiện nay, tình trạng các chương trình dạy học đang dành tỷ trọng ưu tiên quá lớn cho sự phát triển năng lực ngôn ngữ và logic-toán đã làm giảm bớt khả năng phát triển các dạng trí khôn khác. Kết quả là những học sinh không thành công trong việc chứng minh khả năng của họ ở những môn học “ chủ lực” nói trên sẽ đánh mất sự tự tin vào chính mình. Những khả năng khác của họ, do không được chú ý khai thác và bồi dưỡng, sẽ bị thui chột, đó là một sự thiệt thòi với cá nhân họ và một sự mất mát đối cho xã hội. Ngay cả những kiến thức và kỹ năng cơ bản mà hiện nay tất cả các học sinh được yêu cầu nắm vững ngôn ngữ, toán học, lịch sử và các môn khoa học cũng không nên dạy theo cùng một cách với các đối tượng khác nhau. Sự chán nản, những kết quả kém cỏi chắc chắn sẽ giảm đi nhiều nếu giáo viên cung cấp kiến thức theo những cách thức khác nhau, phù hợp với từng đối tượng. Nhiệm vụ của người giáo viên là phải tìm ra những con đường “hợp lý” đó. Muốn vậy, cần thiết lập một cách tiếp cận “đa phương thức” sao cho mỗi học sinh có cơ hội khám phá các sở thích, năng khiếu và khả năng sáng tạo của mình trong một vài lĩnh vực nào đó. Chương trình giáo dục cần được thiết kế có độ “mở” nhất định, trong đó có tính đến sự phong phú về thiên hướng và sở thích tự nhiên của từng cá nhân học sinh. Theo Báo ĐT khoa học phát triển Ban TT& SV
Đời sốngTổ ấm Thứ sáu, 29/5/2015, 0900 GMT+7 Theo thuyết Trí thông minh đa diện, mỗi đứa trẻ khi sinh ra không chỉ có một mà có thể sở hữu nhiều loại hình trí thông minh khác nhau. Bé Minh 3 tuổi nhà chị Lan tại TP HCM có sở thích bắt chước giọng những người xung quanh. Khi hai vợ chồng cấm bé bắt chước giọng người khác, bé bắt đầu bắt chước sang giọng quảng cáo trên TV. Một thời gian, không ai để ý nữa, bé chán và bỏ thói quen này. Còn chị Dương, mẹ của bé Loan 6 tuổi lại tỏ ra lo lắng vì khi đi học mẫu giáo, con tỏ ra không hứng thú với các môn đánh vần, làm phép tính. Tuy nhiên, trong giờ học vẽ, bé lại hoạt bát, nhanh nhẹn. Khi nuôi dạy con, cha mẹ luôn bị bủa vây bởi những lo lắng khi so sánh con mình với các bạn đồng trang lứa hay bé không có những biểu hiện như mong đợi. Tuy nhiên, nếu hiểu sâu về bản chất trí thông minh của trẻ, các phụ huynh có thể giải tỏa được những lo âu này. Ở trường hợp con chị Lan, bé đã bắt đầu có biểu hiện về trí thông minh ngôn ngữ. Việc bắt chước thanh điệu trong giọng nói của người khác không phải ai cũng làm được. Với trường hợp của Loan, bé yêu thích vẽ hơn các môn học khác cũng có thể là tín hiệu của trí thông minh về không gian - thị giác. Mỗi đứa trẻ có thể sở hữu một hoặc nhiều loại hình thông minh. Thuyết thông minh đa diện đã quen thuộc với cha mẹ ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Anh, Canada hay Singapore. Tại Việt Nam, học thuyết mới này đang được Viện Giáo dục Phát triển Tiềm năng Con người IPD nghiên cứu và phổ biến. Theo đó, mỗi đứa trẻ khi sinh ra không chỉ có một mà có thể sở hữu nhiều loại hình trí thông minh khác nhau. Đó là trí thông minh ngôn ngữ, logic-toán học, không gian-thị giác, âm nhạc-nhịp điệu-tiết tấu, vận động cơ thể, tương tác-xã hội, nhận thức bản thân và trí thông minh tự nhiên. Những biểu hiện tưởng nhỏ của trẻ như thích mày mò lắp ráp đồ chơi, định vị không gian tốt hay nhạy cảm trong cách tiếp xúc với mọi người rất dễ bị cha mẹ bỏ qua. Tuy nhiên, chỉ cần tinh ý và chịu khó quan sát, phụ huynh có thể nhận ra và giúp con mình phát triển trí thông minh. Hơn nữa, để nhìn nhận tổng quan về trí thông minh của con, cha mẹ có con 2-6 tuổi có thể tham gia một bài trắc nghiệm đơn giản tại Link. Tìm hiểu loại hình thông minh của bé qua 40 câu trắc nghiệm đơn giản. Ứng dụng được thiết lập chia làm 2 phần dành cho trẻ 2-4 tuổi và 4-6 tuổi với hệ thống 40 câu hỏi trắc nghiệm sâu sát với tính cách, hoạt động, hành vi của trẻ thường ngày giúp cha mẹ nhận diện được điểm mạnh, yếu của con. Dựa trên phương pháp phát hiện và rèn luyện trí thông minh đa diện của Ts. Thomas Armstrong, ứng dụng cũng đưa ra những đánh giá, lời khuyên, hướng dẫn cho cha mẹ áp dụng đối với từng kết quả thực hiện trắc nghiệm theo sự hướng dẫn của chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Linh Hân Ứng dụng Facebook “Bé thuộc loại thông minh nào?” được Wyeth Nutrition của Nestlé Việt Nam thực hiện dựa vào thuyết Trí thông minh đa diện nhằm cung cấp cho cha mẹ một công cụ hữu ích để xác định trí thông minh của con ngay từ nhỏ. Hãng cũng đề cao việc thay đổi nhận thức về bổ sung sinh dưỡng cho con. Sản phẩm dinh dưỡng S-26 Promise GOLD được Wyeth Nutrition giới thiệu với hệ dưỡng chất Wyeth Biofactors giúp trẻ có nền tảng để phát triển 4 khía cạnh chính này. Wyeth Nutrition trực thuộc Công ty Nestlé Việt Nam. Xem thêm tại đây -
thuyết trí thông minh đa diện